Thursday, October 31, 2013

TIỂU SỬ CỦA CỤ NGUYỄN HỮU HIỆT (THẠCH LỮ)

Cụ NGUYỄN HỮU HIỆT (hiệu THẠCH LỮ)
(1891-1991)

Cụ NGUYỄN HỮU HIỆT sinh năm 1891 tại làng Đại Hòa, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Tiên sinh là hậu duệ của nhà toán học và lịch học Triều Nguyễn Nguyễn Hữu Thận (1757-1831) Hiệp Biên Đại học sĩ, Chơn Nguyễn Hầu. Thân phụ là một nhà nho yêu nước, mẹ mất sớm nên tiên sinh sống với kế mẫu. Tiên sinh học chữ Nho, là những người học và thi chữ Nho cuối cùng của triều Nguyễn.
Năm 27 tuổi tiên sinh đi thi hương triều Nguyễn, đậu "đầu xứ" , đậu  Tú tài  được cử ra làm quan, nhưng tiên sinh từ chối, ở nhà làm thầy thuốc cứu người và dạy học. Người trong tỉnh thường gọi là cụ Tú Hiệt.
Năm 1919 làm Ban trị sự Hội Hưng nghiệp Hội xã, Chánh phủ Pháp thuộc tình nghi Cộng sản bị giam cầm 02 tháng.
Thời cụ làm với Hội buôn Hưng nghiệp không theo anh em Cộng sản, giữ vững trung lập. Những năm bị mất mùa làm ruộng không đủ sống, cụ xin đi làm trợ giáo chữ Hán tại trường Quốc học Huế, vì cụ không có bằng Rimé nên không hợp lệ . Cụ được bổ cho làm Thừa phái tại Bộ Lại, cụ từ chối. Sau ngày chia hai đất nước chánh phủ Miền Nam mời cụ làm tri phủ Triệu Phong vì có công trong phủ. Nhưng cụ từ lánh không đi.
Năm 1947 Chánh phủ Cách mạng nghi phản động bị mời lên tỉnh rồi giam ngục kín 18 ngày tiếp đưa đi an trí đồn Ba Tơ hơn 3 tháng. Nhưng sau đó không tìm ra bằng chứng gì đã thả cụ về quê quán.
Năm Bính Thân 1956 thành lập Hội Y Dược Quảng Trị được bầu làm Hội trưởng Hội Y Dược Quảng Trị. Tháng 9 năm 1956 cụ đi thành lập Hội Y Dược Hải Lăng.
Cụ được Đại hội đồng bầu làm Hội trưởng Hội Cổ học Quảng Trị vào năm Mậu Tuất 1958. Mùa xuân năm ấy đi dự đại hội tại Di luân đường Huế.
Cuối năm 1958, các Hội viên yêu cầu làm Hội trưởng Hội Cổ học Quảng Trị thêm năm nữa. Ngày quốc khánh năm 1959 được mời dự tiệc với Uỷ Hội quốc tế đình chiến tại La Vang, ngồi  đối diện với Uỷ hội Ba Lan.
Tháng 7 năm 1961 Nguyễn Quốc Quỳnh tỉnh trưởng Quảng Trị nhờ sưu tầm sự tích ngôi chùa Sắc Tứ có tài liệu trình Nha Du Lịch xin trùng tu.
Năm 1972, mùa hè đỏ lửa xảy ra, cụ vào Đà Lạt sống với con trai , không hợp với khí hậu lạnh nên năm 1973 cụ ra Quảng Ngãi sống với con gái út. Sau đó vài tháng cô con gái út bà Nguyễn Thị Mơ bị tai nạn giao thông mất, cụ vào Nha Trang sống có cô con gái kế là bà Nguyễn Thị Mai chăm sóc. Năm 1973 vào Nha Trang, Hội Khổng học Nha Trang mời làm cố vấn cho Hội. Cụ đã ở Nha trang cho đến ngày ra đi mãi mãi.
Cụ mất lúc 7giờ sáng ngày 20/1/1991 ( tức ngày 5 tháng chạp năm Canh Ngọ) tại tư gia 14 Trần Quang Khải Thành phố Nha Trang để lại muôn vàn thương yêu và luyến tiếc của gia đình và thân hữu.
Về gia đình: Cụ sinh hạ ba người con trai và năm người con gái.Con trai trưởng là ông Nguyễn Hữu Kiêm, đậu tú tài Pháp, được bổ làm Phán sự tại Quảng Bình, thường gọi là Phán Kiêm.






No comments:

Post a Comment