Tuesday, November 12, 2013

ĐIẾU VĂN KHÓC CỤ THẠCH LỮ CỦA HỘI KHỔNG HỌC KHÁNH HÒA VÀ THI XÃ NHA TRANG.

ĐIẾU VĂN KHÓC CỤ THẠCH LỮ CỦA HỘI KHỔNG HỌC KHÁNH HÒA VÀ THI XÃ NHA TRANG.

Kính thưa chính quyền địa phương.
Qúy vị quan khách thân bằng quyến thuộc và tang gia
Cho phép tôi đọc văn điếu Cụ trước linh sàng.

Kính điếu dâng hương hồn Thạch Lữ Nguyễn Hữu tiên sinh

Thạch Lữ Tiên sinh ô!
Xa nhau âu cảnh dương trần
Nhớ nhau tình dệt đôi vần tiếc thương.

Chúng tôi đại diện hội Khổng học cũ Khánh Hòa, Văn hội Diên Khánh và Thị xã Nha Trang, được tin Cụ quá cố như sét đánh bên tai đất bằng sấm dậy, nghe Cụ bệnh chưa kịp hầu thăm thì hôm nay trở ra người thiên cổ.

Hởi ôi! Én đưa thoi ngày tháng trớ trêu
             Người kết liễu cuộc đời trăm tuổi
Sinh ly tử biệt đau đớn muôn vàn, kẻ mất người còn chứa chan giọt lệ, Ôi ! gặt tiết đại hàn bầu trời xám như ủ rũ màu tang, cảnh vị nhân sầu lòng buồn man mác…
Than ôi! Duyên thơ thi bá mất rồi,
             Đời người chiếc lá phương trời gió bay
Với chứng bịnh già người đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 7g sáng ngày 20 tháng giêng năm 1991 (5 tháng 12 Canh Ngọ) tại tư gia 14 đường Trần Quang Khải Nha Trang để lại một mối cảm tình cho người ở lại nhớ thương vô hạn.
Hởi ôi!
Cảnh non Cù mịt mờ khói tỏa
 Quê Sông Hản ảm đạm mây tuôn
Cuộc trần hoàng muôn thuở đau buồn
Tình cố cựu nghìn thu vĩnh biệt
Đau đớn bấy nỗi lòng tha thiết
Tình thi ông phút chốc lại thành không
Đường vân xa bay vút cánh chim hồng
Miền cực lạc nhẹ nhàng buông cánh hạc…

Nhớ linh xưa:
Tánh trời trung liệt, nết rất thảo hiền,
Sĩ khí nho phong, tao nhân mặc khách.
Xưa xuất thân Tú tài Hán học nơi quê hương.

Quảng Trị không màng danh lợi muốn ẩn cư, tiêu khiển với nghề Đông y Dược sĩ, rồi ngày tháng lại qua, cuộc đời dâu bể, cụ di cư vào Đà Lạt non nước hữu tình để ngắm hoa thơm cỏ lại tiêu khiển với gió trăng mây nước mà ngâm vịnh với bạn tao đàn.
Một thời gian rồi Cụ mới trở lại Nha thành định cư để tịnh dưỡng thân tâm, vui hưởng trăng trong gió mát, không khí hiền hòa của biển Yến non Cù mà nâng chén tha hương an nhàn cảnh lão với các bạn làng thơ. Sáng đi bách bộ trên đường Trần Quang Khải, chiều dạo mát bãi biển Nha Trang vui thú cuộc đời.
Nhưng – Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
              Lưu thủ đơn tâm chiếu Hản thanh
Không ngờ số trời đã định, hưởng thọ bách tuế vi kỳ hạc giá qui tiên an nhàn cỏi tịnh quí hóa vô cùng.
Thạch Lữ ôi!
Nẽo âm dương cách ba tấc đất,
Tình thanh khí tìm bốn phương trời
Đâu còn thấy Cụ, thơ xướng họa còn đây, mà người xưa sao vắng!
Trần đời trăm tuổi dễ gì ai?
Nay cụ hoàn nhân trọn đức tài
Tác phúc thi ân mừng quả kết
Từ bi bác ái thấy hoa khai
Rừng nho giếng quí vui ngày lão
Cửa Khổng sân Trình thỏa chí trai
Chúc Cụ mau về nơi cỏi Phật
Dạo chơi non nước chốn bồng lai.
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiên Phật ngô vô sinh…
          Còn đâu xướng họa tâm tình,
Hởi ôi ! Thương thay ! tiếc thay !
          Phục Huy phủ giám
       Chúng tôi đồng kính vãng

(Đọc trước linh sàng ngày 22/1/1991)




Bài 320: ĐIẾU BÀ NHƯ KHÔNG

Bài 320

         ĐIẾU BÀ NHƯ KHÔNG

Tao đàn xướng họa thơ tiên, bèo nước mặn nồng tình đất khách.

Bể ngạn tiêu dao cỏi Phật, gió mưa hiu quanh cảnh trời đông.
                                 THẠCH LỮ

Bài 319: MỪNG TUỔI CHÍN TƯ

Bài 319:

MỪNG TUỔI CHÍN TƯ

Leo thấu thang trời nấc chín tư,
Hãy còn sáu nửa gắng lên ư?
Tiếng tăm với tết nghe tràng pháo,
Tâm sự cùng xuân gởi vận thơ.
Lòng đạo có sau như có trước,
Tình đời không thiếu cũng không dư.
Sống lâu tầng trãi nhiều thay đổi,
Gió mới trăng xưa giữa lúc chừ.


THẠCH LỮ 



Bài 318: XUÂN GIÁP TÝ

Bài 318:       XUÂN GIÁP TÝ

Năm mới người xa đến được không?
Chắc nhiều con cháu viếng thăm ông.
Cơm no ba bữa quà còn dặm,
Đường đủ bốn đời chắt cũng đông.
Đón bạn ngâm nga thơ Lý Bạch,
Mừng xuân thắm thía rượu đào hồng.
Rừng nho bể thánh núi ngày tháng,
Bùi ngọt lâu dài giữa núi sông.


             THẠCH LỮ




Bài 317: XUÂN GIÁP TÝ 93 CẢM VỊNH

Bài 317:
 XUÂN GIÁP TÝ 93 CẢM VỊNH

Cỏi thọ lần lên nấc chín ba,
Gắng thêm bảy nửa thấu trăm a!
Trắng  trong cảnh lão đầu như tuyết,
Hồng tía vườn  xuân mắt  mấy hoa.
Bể Khánh nương mình luồng gió mới,
Non Tần ngửa mặt đám mây xa.
Chuột reo mừng đón năm vui vẻ,
Phúc lợi an khang trẻ lẩn già.
            THẠCH LỮ
Phụng họa 93 tuổi tự thọ của Thạch Lữ thi ông

Thay đổi xuân thu mới chín ba,
Còn nhiều nửa chín bảy năm a!
Yêu đời chấp nối dây tơ thắm,
Mến cảnh trau dồi ngọn bút hoa.
Bạch tuyết sương xuân còn tại đó.
Dương đài Vu giáp phải đâu xa.
Trường sanh diệu dược tay bào chế.
Hà tất băn khoăn chuyện trẻ già.
                 NỮ SĨ  NHƯ KHÔNG trình chính.


Cụ Thạch Lữ đáp họa:

Phải chăng cái số vướng đào hoa,
Đàn đứt dây rồi phải nối a!
Đá hẹn ba sinh bèo gặp nước,
Xuân vàng chín chục bướm mơ hoa.
Đông sơn nam hải không gì thiếu,
Đào động thiên thai chẳng mấy xa.
Tám bảy chín ba đôi lứa đẹp,
Trời chưa già bởi đất chưa già.

                     THẠCH LỮ chuyển họa.

Bài 316:XUÂN QUÝ HỢI 92 TUỔI TỰ THỌ

Bài 316:

XUÂN QUÝ HỢI 92 TUỔI TỰ THỌ

Tuổi thọ mừng nay đặng chín hai,
Kỳ di trời dưỡng có khi nơi.
Ngày chơi ngàn bước hai vai nhẹ,
Đêm nghĩ năm canh một gối dài.(1)
Mượn thú yên hà khuây cảnh lão,
 Lạc đường hồ hởi tiếc thời trai.(2)
Sớm hôm con cháu vui cam chỉ,
Chẳng dám phong lưu tạm đủ xài.

                      THẠCH LỮ


       (1):   lão nội đã về cỏi Phật.
(2): Bạn hữu thanh niên cách mạng, họ nói:”Vì ưa chủ nghĩa lão tử đề huề của Tôn Văn mà không theo anh em, thành thử lạc đường"




Bài 315:Họa bài Mừng thọ 68 tuổi của Mạnh Cử

Bài 315:
Họa bài Mừng thọ 68 tuổi của Mạnh Cử

Câu qua cửa sổ tuyết pha đầu,
Sáu tám ơn trời mạng sống lâu,
Vun mấy vườn cam chờ tụi cháu,
Nhìn bao xâu bánh vuốt chòm râu.
Trò đời hè ấm đông xây lạnh,
Nghĩa bạn sông dài bể vẫn sâu.
Mừng tết làng thơ vui xướng họa,
Gợi tình thanh khí để tương cầu.

                          THẠCH LỮ


Bài 314:Họa bài sinh nhật nhận ngâm của cụ Cử Bùi Tấn Niên.

Bài 314:

Họa bài sinh nhật nhận ngâm của cụ Cử Bùi Tấn Niên.

Kỳ di chúc cụ đủ tam tôn,
Thi lễ xưa rày bạn Khổng môn.
Thế sự năm châu tai lắng rõ,
Đại đồng muôn dặm mắt trông mòn.
Bức tranh khoa bảng bao hàng gấm,
Trang sử tao đàn một điểm son.
Vị bắc Giang nam còn chén rượu,
Mượn đôi cánh nhạn gởi thi hồng.

                   THẠCH LỮ

Bài 313:Họa bài Mừng thọ 92 của Trần Từ gởi tặng

Bài 313:
Họa bài Mừng thọ 92 của Trần Từ gởi tặng

Mừng xuân quý hợi chín mươi hai,
Còn tám năm tròn nợ vãng lai.
Qủa đất xây vần chồng chất tuổi,
Phương trời xa cách nhớ trông ai.
Tuyết sương dạn dĩ thân tùng bá,
Mưa móc tô bồi cụm trúc mai.
Nặng gánh tang bồng thương cháu chắt,

Bồn phương sóng gió lắng hai tai.
                    THẠCH LỮ


Bài 312:Đáp họa THU NHỚ BẠN của Bồ Giang Lê Đình Khởi

Bài 312:

Đáp họa THU NHỚ BẠN của Bồ Giang Lê Đình Khởi

Biết bao tâm sự khách tha phương,
Nhớ bạn sông Bồ nhớ cố hương
Mây khói mịt mù tin nhạn vắng,
Tơ đồng khắc khoải ruột tằm vương
Sóng xao gió mới bèo trôi nổi,
Thu viếng vườn xưa cúc điểm trang.
Cảm tạ tri âm lòng quyến luyến,
Nối điệu năm vận mấy canh trường.

            THẠCH LỮ

                                                                       Thành cổ Quảng Trị

                                         Sông Thạch Hãn

Bài 311:THU NHỚ BẠN

Bài 311:

          THU NHỚ BẠN
Đất khách phiêu bồng trải mấy thu,
Vắng nghe đàn địch vắng nghe cu.
Non Mai sông Hãn trời xa tít,
Tùng cúc vườn xưa cảnh mịt mù.
                             II
Đèn chong canh vắng một mình ngồi,
Khó tả tâm tình gởi đến ai.
Duyên nợ ba sinh bèo với nước,
Cớ sao nước chảy để bèo trôi.
                             III
Nước bèo gắp gỡ nợ hay duyên ?
Thanh khí cùng nhau khách một thuyền.
Gió ngược thuyền trôi bèo lững đững.
Khúc đàn tri kỷ giấc cô miên.
                 THẠCH LỮ


Bài 310


Monday, November 11, 2013

Bài 309:TÌNH XƯA

Bài 309:
TÌNH XƯA

Mùa hè Đinh tỵ, gần cạnh tỉnh đường.
Tình cờ gặp gỡ người đẹp viễn phương(1)
Thanh cao mai giữa tuyết,
Trầm lặng nhạn trong sương.
Người khuê các, khách văn chương.
Chén trà búp hai bàn tay ngọc,
Miệng chào nở một đóa hoa hường.
Xã giao lịch sự âu cũng chuyện thường.
Chưa có ai trao tơ duyên giây nợ,
Mà lòng ai vấn vương.
Vì thiếu nữ dễ thương ,
Nhớ người nhớ cảnh, nhẹ bước băng ngàn.
Mỗi khi đi đến ngoài đường,
Thấy bộ áo đà thay lại thời trang màu trắng.
Nhà lan thanh vắng,
Là ngày thắm đượm mùi hương.
Ngọc vàng dang díu,
Mày mắt yêu thương.
Người về thư viện,
Kẻ tựa lầu trang.
Bâng khuâng lòng nhớ tưởng,
Nặng nề tình yêu thương.
Hoa chờ trăng hẹn, đông lại xuân sang.
Từ ngày chào anh khóa Đầu xứ (2)
Đến ngày chào anh Tú mộng lương,
Khối tình ấp ủ mơ màng,
Cảm tình người quyến luyến,
Mà lòng mình xốn xang.
Để lòng tim cắn rứt,
Hỡ môi  miệng ngở ngàng.
Thật ra yêu nhau vì tình,
Trọng nhau vì nết.
Điệu sắt cầm mình đã kết mối tơ loan.
Nghĩa tào khang bất khả hạ đàng,
Sự tình luống chịu cưu mang!
Một lời thành thật, trăm mối ngổn ngang,
Nhìn nhau hai mặt, lệ nhỏ mấy hàng.
Thôi thôi! ông tơ trót đã phủ phàng,
Ba sinh xin hẹn cùng nàng kiếp sau.
Gượng xa cách để nổi sầu xao lãng,
Thời gian may mắn bạn lấy chồng .
Khoa hoạn cao sang,
Tiêu dao câm hạc, hòa hợp loan hoàng.
Mừng cho bạn chồng hiền con thảo,
Phú quý vinh quang.
Ngày nghe tin về Huế vội vào thăm,
Để mừng chúc khang an.
Ngờ đâu bức chơn dung còn đó,
Mà hồn thiêng đã về chốn suối vàng!
Than ôi! Bèo hợp mây tan,
Nhớ ai thanh nhân,
Son vùi phấn lấp,
Thương phận hồng nhan,
Cỏi trần duyên nợ đa mang!
THẠCH LỮ
 (viết năm 1938 sau ngày vào thăm Huế)

(1) Năm Đinh Tỵ lên học chữ Pháp tại Triệu Phong, mùa tháng ba xin nghĩ về gặt lúa. Khi lên thầy giáo Lê Huy Thân nói:” tỉnh khuyết học sinh, tôi có cử anh dự hạch”. Từ chối với thầy rằng nhà nhiều việc quá, vào học sinh có ăn lương khi nghỉ bất tiện.
Hỏi thầy có nên làm đơn xin kiếu không? Thầy giáo nói: “tôi đề cử thôi, anh không không làm đơn tình nguyện thì không phải kiếu” Thế mà khi hạch Hội đồng trình danh sách vào tỉnh. Tuần vũ tiến sĩ Trần Thống đã ghét sẵn ông đốc học tiến sĩ Nguyễn Hàm, hỏi sao đề cử đông mà hạch ít và hỏi đơn kiếu. Ông đốc Hàm đáp trình theo Tây học thì miễn kiếu cũng được.Ông Tuần buộc vào tội đào hạch bắt khai lý do. Ngày lên khai trước khi vào tỉnh tòa, thầy giáo dẫn vào nhà cụ Bát Tứ là bát phẩm tòa tỉnh. Từ đó tình cờ gặp cô gái con cụ Bát, lên xuống nhiều ngày, mối tơ tình dang díu, Sau nhờ ông phán Tòa sứ xin cho được hạch thí sinh để năm sau đi thi Hương, lại đậu “đầu xứ” khiến cô gái Nghệ Tịnh càng chú ý nặng tình. Thời gian quá mặn nồng, lương tâm bắt buộc thú thật là đã có vợ, buồn tội biết bao! Những vẫn thương mến nhau hoài, mỗi khi tính cờ gặp gỡ.


THẠCH LỮ

Bài 308:LỜI QUÊ (Tập nội san Khổng học số 5 (1962)) TÌNH NON NƯỚC

Bài 308:

LỜI QUÊ
(Tập nội san Khổng học số 5 (1962))

TÌNH NON NƯỚC

Yêu đời đôi bạn trẻ xanh,
Khối tình chồng chất dòng tình láng lai.
Lô nhô non đứng trông người,
Quanh co nước những đoái hoài tình yêu.
Tháng ngày cấp lộc cho tiều,
Đón đưa ông Ngự chiều chiều ra câu.
Nước non muôn thửa cao sâu,
Cá chim nương máu cùng nhau nặng tình.
Đạn tên non đỡ bức thành,
Đục trong nước chịu đủ vành trần ai!
Non xanh nước biếc nào phai.
Mồi tình thắm đượm với đời bấy lâu.
Trời nghiêng non đỡ lên đầu,
Đất khan nước dưỡng hoa màu xinh tươi.
Đá vàng non nặng tình đời,
Trắng trong nước để cho người mãnh gương.
Muốn tiêu non sẵn mỏ vàng,
Muốn vui khe suối cung đàn câu ca.
Giờ sao nước cách non xa,
Ai đem tình ái đổi ra tình sầu ?
Tuyết pha non cũng bạc đầu,
Sóng xao nước cũng buồn chau mặt mày.
Mây sầu gió hận tan bay,
Chung đưa non nước đến ngày vinh quang.
Nối liền lại giải giang san,
Tơ tình một mối muôn ngàn gấm hoa.
Nợ tình non nước bao la.

THẠCH LỮ

Bài 307:LỜI QUÊ (Tập nội san Khổng học số 4 (1962)) TẶNG BẠN HỌC SINH

Bài 307:

LỜI QUÊ
(Tập nội san Khổng học số 4 (1962))

TẶNG BẠN HỌC SINH

Mầm non trẻ tâm hồn trong sạch,
Sớm trau dồi phẩm hạnh thanh cao.
Tu thân đạo đức làm đầu,
Vào thảo ra thuận bạn bầu chữ tin.
Tính cẩn thận giữ gìn mọi việc,
Lòng rộng thương tha thiết yêu đời.
Người “nhân” gần gủi chớ rời,
Vững vàng nền “đạo” tô bồi nền “văn”
          Người trần thế tấm thân muôn thửa,
Lúc trẻ thơ thân của mẹ cha.
Lớn lên thân của nước nhà,
Một vai xã hội lại là thân chung.
Thân hửu dụng vô cùng quan trọng,
Để tấm gương chiêm vọng đời sau.
Ơn thầy kính mến dài lâu,
Tình nhà nợ nước cùng nhau đáp đền.
Sáng ngời cửa Khổng ngọn đèn.

THẠCH LỮ

Bài 306:LỜI QUÊ (Tập nội san Khổng học số 3 (1962)) ĐƯA BẠN GIÀ TÙNG QUÂN

Bài 306:
LỜI QUÊ
(Tập nội san Khổng học số 3 (1962))
ĐƯA BẠN GIÀ TÙNG QUÂN

Bể trời gió táp sóng xao,
Quan hà đưa bạn biết bao nhiêu tình.
Non nước đợi khúc thanh bình,
Bạc đầu gánh nợ mày xanh chưa rồi.
Khói mây tỏa bốn phương trời,
Khách râu mày nở nhìn đời lầm than.
Hiên ngang một quảng gươm đàn,
Đèo thêu hoa nội trăng ngàn mua vui.
Noi gương lấp bể vá trời,
Hy sinh cao quý cứu đời gian truân.
Gặp cơn trời đất phong trần,
Nặng lòng son sắt nhẹ thân tang bồng.
Quên mình má cọp răng long,
Gan vàng lửa đất bụi hồng mưa tan.
Đường về sông núi vinh quang,
Cầm thơ nối vận khải hoan vui chung.
Nghìn năm một hội tao phùng,
Trần ai rõ mặt anh hùng từ đây.
Chén đưa nhớ bữa hôm nay.

THẠCH LỮ

Bài 305:LỜI QUÊ (Tập nội san Khổng học số 2 (1961))

Bài 305:
LỜI QUÊ
(Tập nội san Khổng học số 2 (1961))

Người Bách Việt vốn dòng Hồng Lạc,
Đất ba kỳ khai thác dày công.
Gấm hoa thiêu dệt non sông,
Truyền đời con cháu Tiên Rồng thân yêu,
Nhớ những lúc gặp chiều dâu bể,
Đá găm hơn tinh vệ hy sinh.
Quyết san biển hận cho bình,
Quản bao xương máu vì tình nước non.
Cửa Hàm Tử đời còn bia miệng,
Sóng Bạch Đằng dội tiếng khải ca.
Thái bình mở mặt cỏ hoa,
Một vùng địa lợi nhân hòa xưa nay.
Chi chị ngã bàn tay em đỡ,
Tuổi cha già gánh nợ con mang.
Gương "hiếu đễ" trụ  "cường thường",
Ngàn thu bia đá bảng vàng thiếu chi.
Vai hồ thỉ nặng vì nợ nước,
Mái tóc tơ kết ước tào khang.
Phụ huynh muôn thửa kính nhường ?
Bạn bè gặp cảnh hèn, sang rõ tình.
Nền quốc túy công trình xây dựng,
Ngắm cơ đồ đấng tiền nhân.
Dắc nhau "Bác ái", "Từ" "Nhân",
Gío xuân quét sạch bụi trần khó chi.
Theo đường chính nghĩa ta đi.
                                                         THẠCH LỮ



Bài 304: LỜI QUÊ (Đăng trong các tập nội san Cổ học)

Bài 304:
                                                    LỜI QUÊ
(Đăng trong các tập nội san Cổ học)

                                                    LỜI QUÊ
                                               (Tập số 1) 1961

Cỏi đời muôn vật hóa sinh
Mà riêng tai mắt thông minh làm người.
Chân đạp đất đầu đội trời,
Ôm lòng nhân nghĩa vinh quang.
“Tình thần” “vật chất” cân ngang,
Mực “trung” (1) gìn giữ đạo thường xưa nay.
Nhân gồm trí, dũng trong tay,
Sắt son coi nhẹ gánh đầy đường xa.
Tình chung thương nước thương nhà,
Thương vào thân thích thương ra bạn bè.
Tang bồng vướng nặng lòng quê,
Khi đi ngó mít khi về nhìn cau.
Gấm hoa trăm vẻ phơi màu,
Biết bao lớp trước đàn sau tô bồi.
Tu thân thuận với đạo trời,
Tình yêu xây dựng cho đời yên vui.
Nêu gương Khổng học mà soi,
Ruổi đà tân tiến theo đòi Mỹ Âu.
Ngày mai gót đạp tinh cầu,
Luân thường đạo lý một bầu mang theo.
Vũ đài múa nhảy mừng reo,
Lâu đài văn hiến xây cao dần dần.
Tiếng tăm dòng giỏi tiền nhân,
Sao cho phẩm hạnh xứng phần tài hoa.
Thanh niên rường cột nước nhà,
Lẽ đâu thấy gánh sơn hà làm lơ.
Trời Nam thống nhất cõi bờ,
Tư do nhìn rõ ngọn cờ vinh quang.
Tri âm nhắn gởi cung đàn.
THẠCH LỮ

(1)            Đời Nghiêu Thuấn chế độ truyền hiền. Khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, vua Nghiêu nói với vua Thuấn rằng: phải giữ cho đúng đạo “trung” để trị thiên hạ. Vua Thuấn “dạ vâng”. Khi vua Thuán nhường ngôi cho vua Võ thì nói rằng:”lòng người nguy hiểm, lòng đạo mỏng manh. Phải làm sao cho tinh vi, cho nhất khoát, để nắm cho đúng đạo “trung” mà trị bình thiên hạ. Nhân tâm duy nguy; đo tâm duy vi. Duy tinh duy nht, doãn chp quyết trung"…. Duy vật xuất xứ từ đó. Hai chữ “chấp trung” rất là quan trọng, vì rằng trời đã phú cho con người có cái xác thịt , lẽ tất nhiên phải có lòng thèm muốn, lòng ấy gọi là nhân tâm, là lòng vật chất.
Trời lại phú cho con người có lòng nhân nghĩa, liêm chính, lòng ấy gọi là đạo tâm. Lòng tham muốn có sức mạnh làm mờ ám che lấp phải trái giữa đời, hại cho lòng đạo, là nguy hiểm lắm: vì lòng đạo nó mỏng manh, yếu đuối, cho nên thường bị lòng ưa muốn lấn áp mà mất đi.
Nhưng nhân tâm là khoái lạc về vật chất là duy vật. Đạo tâm là khoái lạc về tinh thần là duy tâm. Vật chất ta không để nó chịu thiếu thốn, nhưng về tinh thần ta cũng cần giữ gìn để được phải chăng tốt đẹp với đời, lòng ta mới khỏi hổ thẹn. Vì vậy phải xét sao cho tinh, sao cho nhất khoát để nắm cả hai cái cho đúng ở giữa, không để cho bên nào nhiều hơn bên nào ít thua.
Tóm lại, đạo làm người phải có cả duy tâm và duy vật cân nhau, như vậy thì tấm thân ta đều được thỏa mãn sung sướng, và đúng với đạo làm người. Ví dụ: con trâu, con ngựa, hể thấy cái gì ngon miệng là ăn ngay, trái lại con người thì cái gì không phải đạo, thì dù túng thiếu cũng không sao lạm dụng được của người khác mà khỏi thẹn với lòng mình. Thế là đạo tâm không cho nhân dục thắng thế. Sách có câu ”tham chi tam tài, viết duy tâm dĩ” nghĩa là con người nhỏ mọn yếu đuối thua các loài vật nhiều lắm, tại sao mà sánh đặng với trời đất là “thiên địa nhân”, là vì có đặng duy tâm đó vậy.
THẠCH LỮ



















Bài 303: NẮNG HÈ ( Đề của Trúc liên thi xã Sài Gòn)

Bài 303: NẮNG HÈ
( Đề của Trúc liên thi xã Sài Gòn)

Nhớ bửa xuân đi chén rượu hoa,
Hè về xơ xác cảnh quan hà.
Ao sen nước Phật còn chau mặt,
Bóng ác người trần chịu cháy da.
Cây cỏ mơ màng ơn vũ lộ,
Suối rừng vắng vẽ tiếng sinh ca.
Khuôn vàng chờ đợi ngày nung nấu,
Hay giải non xanh kẹt gió hòe?

  THẠCH LỮ  Hè Qúy sửu Nha Trang 


Bài 302: HỘI THANH BÌNH

Bài 302: HỘI THANH BÌNH
(đề của Nha thành thi xã)

Biết bao mơ mộng cảnh thanh bình,
Thế giới son vàng dệt bức tranh.
Muôn dặm trời Nghiên mưa móc ngọt,
Hai miền đất Việt gấm hoa xinh.
Sóng tan bể hận tăm kình ngạc,
Gío đón đài xuân nhạc yến oanh.
Con cháu Lạc Hồng lông cánh đủ,
Vùng trời ngưu đẩu rộng thênh thênh.

            THẠCH LƯ  Xuân Qúy sửu Nha Trang


Bài 301: VỌNG THIÊN MÔN

Bài 301: VỌNG THIÊN MÔN

Khỏi vòng danh lợi nhẹ tấm thân,
Hướng ngõ thiền môn học bước dần.
Sáng lạng phàn cùng đường rộng rãi,
Mơ màng giác hãi bến xa gần.
Bức gương liên tọa soi lòng tục,
Giọt nước dương chi rước bụi trần.
Rủ áng từ vân đưa bóng mát,
Thức người mê mộng tiếng chuông ngân.

            THẠCH LỮ Xuân Qúy sửu

Bài 300: Bộ vận bài “ Bát lục sinh Triêu’ của cụ Bùi Tấn Niên.

Bài 300: Bộ vận bài “ Bát lục sinh Triêu’
 của cụ Bùi Tấn Niên.

Trớ trêu gánh nợ lão còn sương,
Sân khấu nhìn hoài lớp cải lương.
Đất khách bốn mùa châu quế lạ,
Cố viên ngàn dặm cúc tùng hoang.
Bạn bè thân thiết thư thăm hỏi,
Con cháu xa gần dạ nhớ thương.
Chờ mãi đại đồng đầu bạc toát,
Hoàn đồng thiếu thuốc nghỉ nam phương

  THẠCH LỮ  Tân Dậu  Nha Trang