Muôn vật tạo hóa sinh trong vũ trụ, không
nhiều thì ít, có sắc thái, có văn chương. Chẳng hạn, loài cây cỏ thì muôn ngàn
bông hoa tươi thắm, thi đua trang điểm mỗi khi chào đón xuân về.
Muông chim thi ve sầu, vượn hú, rế ngâm,
con oanh học nói trên cành mỉa mai. Bởi phúc lành thiên nhiên, tâm hồn thường yêu nghệ thuật, mỗi khi dấy cơn cao hứng thì đem
hết khả năng ưu
thích, nói lên với bạn bè đồng thanh đồng khí để chia xẻ buồn vui.
Loài người là thành phần ưu tú nhất trong
muôn vật. Văn chương là tinh hoa của dân tộc kết thành, cho nên sống trong bốn
biển năm châu, màu da tiếng nói có khác biệt nhau, mà lòng yêu thơ thì đều có
như nhau cả. Vì thơ là tiếng nói của đáy lòng (thi tâm chi thanh). Thơ để nói
lên cái chí của người (thi ngôn chí).Song trình độ và tài nghệ sở trường có
khác nhau, thành thử tác phẩm thường có cái giá trị riêng biệt. Có người nói:”
người có gặp cảnh cùng khốn để thơ mới hay”. Có người nói : “Người chưa lịch
duyệt danh lam thắng cảnh, chưa chắc thơ đã hay”. Gỉa Đảo đời thường có câu:
”Nhị cúc tam niên đắc; nhất ngâm song lệ
lưu.
“Tri âm như bất thức; qui ngọa cố sơ thu.
(Hai câu thơ làm ba năm mới được.Một khi
ngâm lên hai hàng nước mắt chảy. Bạn tri âm không thưởng thức . Ta về nằm nơi
cố sơn với cảnh trời thu). Tùng Thiên Vương có câu: “Giai cú hốt tùng thiên
ngoai đắc.Dị thư đa tại mộng trung khan”. (Sách lạ thường xem trong mộng, câu
hay với được ngoài trời).Lòng yêu thơ hầu như cộng đồng, mà tài hay thơ quả
thật là hiếm.
Đức Khổng Tử dạy học thường khuyên con em
học kinh Thi (Thơ ca bình dân của Trung hoa từ đời thượng cổ). Ngài nói: “Học
kinh Thi để tinh thần được phấn khởi. Học kinh Thi để thấy đời được rõ
ràng.Điều thư ba là để hòa hợp đoàn kết đời sống được yên vui. Điều thứ tư là
dù có xảy ra chếch mích đi chăng nửa , rồi cũng hòa giải với nhau được, không
đến nỗi thù oán nhau hoài”. Người Trung Quốc sùng mộ đạo Ngài, từ Hán đến
Đường, danh tiếng thơ ca vang dội khắp thế giới.
Việt Nam ta hấp thụ văn hóa của Trung Quốc
, các triều đại trước , nữ cũng nam đều lấy thơ văn đối chọi với người Trung
Quốc không hơn không kém.Có người nói :”Văn như Siếu Quát hay hơn Tiền Hán, Thơ
của Tùng Văn đè cả thịnh Đường”, lời nói ấy không biết có vô tư hay không. Nhật
Bổn có ban nghiên cứu về nhân chủng học thì nói rằng:’ Người Việt Nam học
giỏi, ăn mặn và hay bắt chước”. Thời nội thuộc Trung Hoa, chẳng những học hơn
các thuộc địa của Trung Hoa mà học giỏi bằng Trung Hoa. Thời thuộc Pháp thì
chẳng những học giỏi hơn các thuộc địa của Pháp, mà học giỏi hơn Pháp nữa.
Xem các hội trường giả gạo, con trai con
gái bình dân họ tự soạn ra những câu thơ ca có giá trị xứng đáng để đối đáp
nhanh trong tức thời, không phải là chuyện dễ. Dân tộc Việt Nam có lẽ tinh hoa
của Lý Đỗ vậy.
Riêng tôi tuy không hay thơ, song cũng một
lòng yêu thơ cùng bạn. Nhớ lại ngày gần gủi với Thi xã Hương Bình, thì non sông
phong cảnh ngàn xưa , thành quách nhân dân nửa mới. Xúc cảm chín chiều tâm sự,
ngao du một hội một thuyền, cùng nhau gợi nên ít nhiều ngâm vịnh. Ngày liên lạc
với Á Châu Thi đàn của Trung Hoa Dân Quốc (tại Hồng Kông) thì kẻ chân trời
người góc biển, bạn thần giao muôn dặm, mà cao sơn lưu thủy, mang hoài duyên nợ
với tri âm.
Đoạn đời mãn chiều xế bóng, dừng bước chân
tại Nha Trang, cũng nhờ có bạn thơ ngày tháng vui vầy, mà khuây khỏa được phần
nào nỗi buồn dặm ngàn lưu lạc thời buổi khó khăn này vậy.
Thật ra, có lúc vì nhớ bạn mà nên thơ, mà
cũng nhờ thơ mà có bạn, tình thơ nghĩa bạn đáng lưu kỷ niệm lâu dài. Sống trãi
qua bao nhiêu năm chiến tranh di chuyển bị thất lạc cũng nhiều nhất là câu đối.
Nay góp lại tập nầy là nhớ lời khuyên của các bạn và cũng để cho con cháu muốn
xem. Nếu được đọc giả cao minh ghé mắt. Xin vui lòng phủ chỉnh cho.
Xuân Tân Dậu 1981 Thạch Lự viết tại hiên
tây gian nhà ở quê hương thứ hai trên bãi biển Nha Trang.
Phiên âm:
THẠCH LỮ THI TẬP TỰ
Văn hữu tam viết: Cỗ, nhã, kỳ .
Thượng thế dĩ cỗ, trung thế dĩ nhã, hạ thế dĩ kỳ.Thử dai phong khí chi tự
nhiên. Nhiên thế chi công ư văn giã, nhũng kỳ chi thắng, phả thất cổ di vong
nhã.Ư thị hiệp tam thế di quán chi. Cấu tứ thượng kỳ, chế tự thượng cổ.Tạo từ
thượng nhã. Cái siêu nhiên ư thiên địa cổ kim chi ngoại nhị Tiên thát phong tao,
từ khu nhả tung hỉ. Dư thi dĩ ái Thạch Lữ công chi tác. Công Mai thành chi danh
nho .Văn mặc chi lão giải dư dư . Thần giao thập hửu dư mien. Tư để Lạc tĩnh
than quyến, thi đào diện ngộ, môi môi huê hô huy quãn, hung khiếu cao ngâm, bất
tri nhật chi tương thê hĩ. Công thích dĩ thi tập thi dư, độc chi kỷ biến,
phương tư gia đình thọ thọ, tố uyên nguyên.Nhơn khuyến công tích thành thiên
dật, dĩ luu lai giã. Thứ cơ tai, ư thánh hiền chủ đạo, bất chứ mai một. Thử
diệu văn báo chi nhất bạn, binh phụng chi nhất của Lão.Cẩn tính sổ ngôn dĩ chí
chi.Thả dư công tường khuyến miễn vu. Thi giáo chi chính truyền vân dĩ.
Thời Mậu Thân tuế tam nguyệt ký vọng. Vân
Thức tỳ hạ liên Bạt Tây hồ Bùi Tấn Viên bái thứ vu Sùng Sơn chi tây hiên.
Dịch :
BÀI TỰA TẬP THƠ
THẠCH LỮ
Văn thơ có ba đặc điểm: là Cổ, Nhã,
Kỳ, Thời thượng cổ ưa lối văn cổ, đến thời trung cổ thì ưa tao nhã, đời sau lại
ưa lối văn cầu kỳ, đó cũng là do phong khí tự nhiên của thời đại mà ra. Song
le, người đời giỏi về văn thơ họ sợ rằng: ham kỳ quá sợ giảm mất phần Cổ và
lãng quên mất phần nhã đi. Bèn phối hợp các đặc điểm của ba đời lại mà
quán xuyến hết. Về phần dung từ thì ưa cho kỳ. Về dùng chữ thì ưa có phần Cổ.Về
lời văn thì ưa chuộng lối tao nhã. Thế là vượt ra ngoài trời đất xưa nay mà múa
men giông duỗi với Thiên Nhã thiên dụng trong Kinh Thi vậy. Vì vậy mà tôi yêu
những tác phẩm của cụ Thạch Lữ. Cụ là nhà danh nho tỉnh Quảng Trị, người lão
luyện về văn mặc, đã cùng tôi làm bạn với nhau trên thư từ văn chương hơn mười
năm nay. Nay cụ lên Đà Lạt thăm con cháu tôi mới được gặp mặt. Thường ngày cùng
nhau nhấm rượu ngâm thơ, ngâm nga suốt ngày để giải trí trong lúc giang hồ lưu
lạc, Cụ bèn lấy tập thơ cho tôi xem. Tôi đọc vài dạo, biết rõ cụ nhờ gia đình
truyền thọ sẵn có vực nguồn. Nhân khuyên cụ nên dồn lại cho thành pho, để lại
cho đời sau, ngõ hầu đạo lý thánh hiền không đến nỗi mai một, đó cũng là đốm
đẹp trên da beo, một cáo lông trên hình chim phụng vậy. Kính góp vài lời để ghi
lại đây, và cũng để khuyến khích nhau trên chính truyền của Thi giáo vậy.
Ngày 15 tháng 03 năm Mậu Thân (1968).
Ban vân giao tỳ hà liên bạt Tây Hồ Bùi Tấn
Niên . Viết tại hiên tây lử xá Dalat
Tây Hồ Bùi Tấn Niên.
Kính đề THẠCH
LỮ THI TẬP.
Hưu đình vui hưởng áng văn chương,
Thạch Lữ thi ca sánh Thịnh Đường.
Sĩ khí đã lưng danh tuấn kiệt,
Tao đàn thường giữ nếp thư hương.
Quan hoài non nước lòng son sắt,
Thông cảm thi lan nghĩa đá vàng.
Bảo mặc nhà nho hồ dễ mấy,
Kiên tùng trước gió tuyết trong gương.
MAI ĐÌNH ĐỖ VĂN NHỊ
(ĐÀ LẠT)


No comments:
Post a Comment